| Thuế giá trị gia tăng |
1. Phương pháp khấu trừ thuế
1.1. Phương pháp khấu trừ thuế áp dụng đối với cơ sở kinh
doanh thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp
luật về kế toán, hoá đơn, chứng từ và đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ
thuế, trừ các đối tượng áp dụng tính thuế theo phương pháp tính trực tiếp trên
GTGT nêu tại điểm 2 Mục này.
a) Số thuế giá trị gia tăng đầu ra bằng tổng số thuế giá trị
gia tăng của hàng hoá, dịch vụ bán ra ghi trên hoá đơn giá trị gia tăng.
Thuế giá trị gia tăng ghi trên hoá đơn giá trị gia tăng bằng
giá tính thuế của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế bán ra nhân (x) với thuế suất thuế
giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ đó.
Trường hợp sử dụng chứng từ ghi giá thanh toán là giá đã có
thuế GTGT thì thuế GTGT đầu ra được xác định bằng giá thanh toán trừ (-) giá
tính thuế quy định tại điểm 1.10 mục II phần này.
Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng tính thuế theo phương pháp
khấu trừ thuế khi bán hàng hóa, dịch vụ phải tính và thu thuế GTGT của hàng
hóa, dịch vụ bán ra. Khi lập hoá đơn bán hàng hóa, dịch vụ, cơ sở kinh doanh phải
ghi rõ giá bán chưa có thuế, thuế GTGT và tổng số tiền người mua phải thanh
toán. Trường hợp hoá đơn chỉ ghi giá thanh toán (trừ trường hợp được phép dùng
chứng từ đặc thù), không ghi giá chưa có thuế và thuế GTGT thì thuế GTGT của
hàng hoá, dịch vụ bán ra phải tính trên giá thanh toán ghi trên hoá đơn, chứng
từ.
Cơ sở kinh doanh phải chấp hành chế độ kế toán, hoá đơn, chứng
từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hoá đơn, chứng từ và hướng dẫn tại Mục
IV, Phần B Thông tư này. Trường hợp hoá đơn ghi sai mức thuế suất thuế giá trị
gia tăng mà cơ sở kinh doanh chưa tự điều chỉnh, cơ quan thuế kiểm tra, phát hiện
thì xử lý như sau:
Đối với cơ sở kinh doanh bán hàng hoá, dịch vụ: Nếu thuế suất
thuế GTGT ghi trên hoá đơn cao hơn thuế suất đã được quy định tại các văn bản
quy phạm pháp luật về thuế GTGT thì phải kê khai, nộp thuế GTGT theo thuế suất
đã ghi trên hoá; Nếu thuế suất thuế GTGT ghi trên hoá đơn thấp hơn thuế suất đã
được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật về thuế GTGT thì phải kê khai,
nộp thuế GTGT theo thuế suất thuế GTGT quy định tại các văn bản quy phạm pháp
luật về thuế GTGT.
b) Thuế GTGT đầu vào bằng (=) tổng số thuế GTGT ghi trên hoá
đơn GTGT mua hàng hóa, dịch vụ (bao gồm cả tài sản cố định) dùng cho sản xuất,
kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT, số thuế GTGT ghi trên chứng từ nộp
thuế của hàng hoá nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế GTGT thay cho phía nước
ngoài theo hướng dẫn của Bộ Tài chính áp dụng đối với các tổ chức nước ngoài
không có tư cách pháp nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài kinh doanh hoặc có
thu nhập phát sinh tại Việt Nam.
Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào là loại được dùng chứng
từ đặc thù ghi giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT thì cơ sở được căn cứ vào
giá đã có thuế và phương pháp tính nêu tại Điểm 1.10, Mục I, Phần B Thông tư
này để xác định giá không có thuế và thuế GTGT đầu vào.
Trường hợp hoá đơn ghi sai mức thuế suất thuế giá trị gia
tăng mà các cơ sở kinh doanh chưa tự điều chỉnh, cơ quan thuế kiểm tra, phát hiện
thì xử lý như sau:
Đối với cơ sở kinh doanh mua hàng hoá, dịch vụ: Nếu thuế suất
thuế GTGT ghi trên hoá đơn mua vào cao hơn thuế suất đã được quy định tại các
văn bản quy phạm pháp luật về thuế GTGT thì khấu trừ thuế đầu vào theo thuế suất
quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật về thuế GTGT; Trường hợp xác định
được bên bán đã kê khai, nộp thuế theo đúng thuế suất ghi trên hoá đơn thì được
khấu trừ thuế đầu vào theo thuế suất ghi trên hoá đơn nhưng phải có xác nhận của
cơ quan thuế trực tiếp quản lý người bán; Nếu thuế suất thuế GTGT ghi trên hoá
đơn thấp hơn thuế suất quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật về thuế GTGT
thì khấu trừ thuế đầu vào theo thuế suất ghi trên hoá đơn.
c) Xác định thuế GTGT đầu vào được khấu trừ:
c.1. Thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất,
kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT được khấu trừ toàn bộ.
c.2. Thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ sử dụng đồng thời
cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế và không chịu thuế GTGT
thì chỉ được khấu trừ số thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản
xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT. Cơ sở kinh doanh phải hạch
toán riêng thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ và không được khấu trừ;
trường hợp không hạch toán riêng được thì thuế đầu vào được khấu trừ theo tỷ lệ
(%) giữa doanh số chịu thuế giá trị gia tăng so với tổng doanh số của hàng hoá,
dịch vụ bán ra.
c.3. Thuế GTGT đầu vào của tài sản cố định sử dụng đồng thời
cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT và không chịu thuế
GTGT thì được khấu trừ toàn bộ.
Thuế GTGT đầu vào của tài sản cố định trong các trường hợp
sau đây không được khấu trừ mà tính vào nguyên giá của tài sản cố định: tài sản
cố định chuyên dùng phục vụ sản xuất vũ khí, khí tài phục vụ quốc phòng, an
ninh; tài sản cố định là nhà làm trụ sở văn phòng và các thiết bị chuyên dùng
phục vụ hoạt động tín dụng của các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp kinh doanh
tái bảo hiểm, bảo hiểm nhân thọ, kinh doanh chứng khoán, các bệnh viện, trường
học; tàu bay dân dụng, du thuyền không sử dụng cho mục đích kinh doanh vận chuyển
hàng hoá, hành khách, kinh doanh du lịch, khách sạn.
Thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ hình thành tài sản cố
định của doanh nghiệp như nhà ăn ca, nhà nghỉ giữa ca, nhà ở miễn phí, phòng
thay quần áo, nhà để xe, nhà vệ sinh, bể nước phục vụ cho người lao động làm việc
trong khu vực sản xuất, kinh doanh và nhà ở, trạm y tế cho người lao động làm
việc trong các khu công nghiệp được khấu trừ toàn bộ.
Tài sản cố định là ô tô chở người từ 9 chỗ ngồi trở xuống
(trừ ô tô sử dụng vào kinh doanh vận chuyển hàng hoá, hành khách, kinh doanh du
lịch, khách sạn) có trị giá vượt trên 1,6 tỷ đồng thì số thuế GTGT đầu vào
tương ứng với phần trị giá vượt trên 1,6 tỷ đồng không được khấu trừ.
c.4. Cơ sở sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng đánh
bắt thuỷ, hải sản có tổ chức sản xuất khép kín, hạch toán kết quả sản xuất kinh
doanh tập trung có sử dụng sản phẩm ở các khâu sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp;
nuôi trồng, đánh bắt thuỷ, hải sản làm nguyên liệu để tiếp tục sản xuất chế biến
ra sản phẩm chịu thuế GTGT (bao gồm sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản chưa qua chế
biến xuất khẩu hoặc sản phẩm đã qua chế biến thuộc đối tượng chịu thuế GTGT) được
kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào phục vụ cho sản xuất kinh doanh ở tất cả
các khâu đầu tư xây dựng cơ bản, sản xuất, chế biến. Trường hợp cơ sở có bán
hàng hóa là sản phẩm nông, lâm, thuỷ hải sản chưa qua chế biến hoặc mới qua sơ
chế thông thường thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT thì số thuế GTGT của hàng
hóa, dịch vụ mua vào được tính khấu trừ theo tỷ lệ (%) doanh số hàng hóa, dịch
vụ chịu thuế GTGT so với tổng doanh số của hàng hóa, dịch vụ bán ra.
c.5. Thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, tài sản cố định mua vào
bị tổn thất, bị hỏng do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn bất ngờ không được khấu trừ.
c.6. Thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hoá (kể cả hàng
hoá mua ngoài hoặc hàng hoá do doanh nghiệp tự sản xuất) mà doanh nghiệp sử dụng
để khuyến mại, quảng cáo dưới các hình thức phục vụ cho sản xuất kinh doanh hàng
hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT thì được khấu trừ.
c.7. Thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hóa, dịch vụ sử
dụng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế giá trị gia
tăng nêu tại mục II phần A Thông tư này được tính vào nguyên giá tài sản cố định,
giá trị nguyên vật liệu hoặc chi phí kinh doanh. Trừ các trường hợp sau:
- Thuế giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ mà cơ sở kinh
doanh mua vào để sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cung cấp cho tổ chức, cá
nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế để viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại
quy định tại điểm 19.e mục II phần A Thông tư này được khấu trừ toàn bộ;
- Thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hoá, dịch vụ sử dụng
cho hoạt động tìm kiếm, thăm dò, phát triển mỏ dầu khí được khấu trừ toàn bộ.
c.8. Thuế GTGT đầu vào phát sinh trong tháng nào được kê
khai, khấu trừ khi xác định số thuế phải nộp của tháng đó, không phân biệt đã
xuất dùng hay còn để trong kho. Trường hợp cơ sở kinh doanh phát hiện số thuế
GTGT đầu vào khi kê khai, khấu trừ còn sót hoá đơn hoặc chứng từ nộp thuế chưa
kê khai, khấu trừ thì được kê khai, khấu trừ bổ sung; thời gian để kê khai, khấu
trừ bổ sung tối đa là 6 (sáu) tháng, kể từ tháng phát sinh hoá đơn, chứng từ bỏ
sót.
c.9. Số thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ, cơ sở kinh
doanh được hạch toán vào chi phí để tính thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc vào
tính vào nguyên giá tài sản cố định theo quy định của pháp luật.
c.10. Văn phòng Tổng công ty, tập đoàn không trực tiếp hoạt
động kinh doanh và các đơn vị hành chính sự nghiệp trực thuộc như: Bệnh viện,
Trạm xá, Nhà nghỉ điều dưỡng, Viện, Trường đào tạo… không thuộc đối tượng nộp
thuế GTGT thì không được khấu trừ hay hoàn thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch
vụ mua vào phục vụ cho hoạt động của các đơn vị này.
Trường hợp các đơn vị này có hoạt động kinh doanh hàng hoá,
dịch vụ chịu thuế GTGT thì phải đăng ký, kê khai nộp thuế GTGT riêng cho các hoạt
động này.
a) Có hoá đơn giá trị gia tăng hợp pháp của hàng hoá, dịch vụ
mua vào hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng khâu nhập khẩu hoặc chứng từ nộp
thuế GTGT thay cho phía nước ngoài theo hướng dẫn của Bộ Tài chính áp dụng đối
với các tổ chức nước ngoài không có tư cách pháp nhân Việt Nam và cá nhân nước
ngoài kinh doanh hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam.
b) Có chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với hàng hóa, dịch
vụ mua vào, trừ trường hợp tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào từng lần theo
hóa đơn dưới hai mươi triệu đồng theo giá đã có thuế GTGT.</p>
Hàng hoá, dịch vụ mua vào từng lần theo hóa đơn trên hai mươi
triệu đồng theo giá đã có thuế GTGT nếu không có chứng từ thanh toán qua ngân
hàng thì không được khấu trừ. Đối với những hoá đơn này, cơ sở kinh doanh kê
khai vào mục riêng trong bảng kê hoá đơn, chứng từ hàng hoá, dịch vụ mua
vào.</p>
Đối với hàng hoá, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị
hàng hoá, dịch vụ mua trên hai mươi triệu đồng, cơ sở kinh doanh căn cứ vào hợp
đồng mua hàng hoá, dịch vụ, hoá đơn giá trị gia tăng và chứng từ thanh toán qua
ngân hàng của hàng hoá, dịch vụ mua trả chậm, trả góp để kê khai, khấu trừ thuế
giá trị gia tăng đầu vào, đồng thời ghi rõ thời hạn thanh toán vào phần ghi chú
trên bảng kê hoá đơn, chứng từ hàng hoá, dịch vụ mua vào. Trường hợp chưa có chứng
từ thanh toán qua ngân hàng do chưa đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng, cơ
sở kinh doanh vẫn được kê khai, khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào. Đến thời
điểm thanh toán theo hợp đồng nếu không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng
thì không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào, cơ sở kinh doanh phải kê khai, điều
chỉnh giảm số thuế giá trị gia tăng đầu vào đã khấu trừ của giá trị hàng hoá
không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng.
Trường hợp đến thời điểm thanh toán là tháng 5/2009, Công ty
A cung cấp được chứng từ thanh toán quan ngân hàng nhưng số tiền ghi trên chứng
từ thanh toán này có giá trị 275 triệu đồng thì Công ty A chỉ được chấp nhận khấu
trừ thuế GTGT 25 triệu đồng, đồng thời Công ty A phải điều chỉnh giảm số thuế
GTGT được khấu trừ vào của kỳ kê khai tháng 5/2009 là 5 triệu đồng.
Hàng hoá, dịch vụ mua vào theo phương thức thanh toán bù trừ
giữa giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào với giá trị hàng hóa bán ra; bù trừ công
nợ; thanh toán uỷ quyền qua bên thứ ba thanh toán qua ngân hàng mà các phương
thức thanh toán này được quy định cụ thể trong hợp đồng cũng được coi là thanh
toán qua ngân hàng; Trường hợp sau khi thực hiện các hình thức thanh toán nêu
trên mà phần giá trị còn lại được thanh toán bằng tiền có giá trị từ 20 triệu đồng
trở lên thì chỉ được khấu trừ thuế đối với trường hợp có chứng từ thanh toán
qua ngân hàng. Khi kê khai hoá đơn thuế giá trị gia tăng đầu vào, cơ sở kinh
doanh ghi rõ phương thức thanh toán được quy định cụ thể trong hợp đồng vào phần
ghi chú trên bảng kê hoá đơn, chứng từ hàng hoá, dịch vụ mua vào.
Trường hợp mua hàng hoá, dịch vụ của một nhà cung cấp có giá
trị dưới hai mươi triệu đồng nhưng mua nhiều lần trong cùng một ngày có tổng
giá trị trên hai mươi triệu đồng thì chỉ được khấu trừ thuế đối với trường hợp
có chứng từ thanh toán qua ngân hàng.
c) Hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu (trừ các trường hợp hướng dẫn
tại điểm 1d, điểm 1đ Mục này) để được khấu trừ thuế, hoàn thuế GTGT đầu vào phải
có đủ điều kiện và các thủ tục nêu tại tiết a, b điểm này và điểm 1.2 mục II phần
B Thông tư này, cụ thể như sau:
c.1. Hợp đồng bán hàng hoá, gia công hàng hóa (đối với trường
hợp gia công hàng hóa), cung ứng dịch vụ cho tổ chức, cá nhân nước ngoài. Đối với
trường hợp uỷ thác xuất khẩu là hợp đồng uỷ thác xuất khẩu và biên bản thanh lý
hợp đồng uỷ thác xuất khẩu (trường hợp đã kết thúc hợp đồng) hoặc biên bản đối
chiếu công nợ định kỳ giữa bên uỷ thác xuất khẩu và bên nhận uỷ thác xuất khẩu
có ghi rõ: số lượng, chủng loại sản phẩm, giá trị hàng uỷ thác đã xuất khẩu; số,
ngày hợp đồng xuất khẩu của bên nhận uỷ thác xuất khẩu ký với nước ngoài; số,
ngày, số tiền ghi trên chứng từ thanh toán qua ngân hàng với nước ngoài của bên
nhận uỷ thác xuất khẩu; số, ngày, số tiền ghi trên chứng từ thanh toán của bên
nhận uỷ thác xuất khẩu thanh toán cho bên uỷ thác xuất khẩu; số, ngày tờ khai hải
quan hàng hóa xuất khẩu của bên nhận uỷ thác xuất khẩu.
c.2. Tờ khai hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu có xác nhận
đã xuất khẩu của cơ quan hải quan.
Đối với cơ sở kinh doanh xuất khẩu sản phẩm phần mềm dưới
các hình thức tài liệu, hồ sơ, cơ sở dữ liệu đóng gói cứng để được khấu trừ,
hoàn thuế GTGT đầu vào, cơ sở kinh doanh phải đảm bảo thủ tục về tờ khai hải
quan như đối với hàng hoá thông thường.
- Đối với cơ sở kinh doanh xuất khẩu dịch vụ, phần mềm qua
phương tiện điện tử thì không cần có tờ khai hải quan. Cơ sở kinh doanh phải thực
hiện đầy đủ các quy định về thủ tục xác nhận bên mua đã nhận được dịch vụ, phần
mềm xuất khẩu qua phương tiện điện tử theo đúng quy định của pháp luật về
thương mại điện tử.
- Hoạt động xây dựng, lắp đặt công trình của doanh nghiệp chế
xuất.
- Cơ sở kinh doanh cung cấp điện, nước, văn phòng phẩm, hàng
hoá phục vụ sinh hoạt hàng ngày của doanh nghiệp chế xuất.
c.3. Hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu phải thanh toán qua ngân
hàng theo hướng dẫn sau đây:
Thanh toán qua ngân hàng là việc chuyển tiền từ tài khoản của
bên nhập khẩu sang tài khoản mang tên bên xuất khẩu mở tại ngân hàng theo các
hình thức thanh toán phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng và quy định của ngân
hàng. Chứng từ thanh toán tiền là giấy báo Có của ngân hàng bên xuất khẩu về số
tiền đã nhận được từ tài khoản của ngân hàng bên nhập khẩu. Trường hợp thanh
toán chậm trả, phải có thỏa thuận ghi trong hợp đồng xuất khẩu, đến thời hạn
thanh toán cơ sở kinh doanh phải có chứng từ thanh toán qua ngân hàng. Trường hợp
uỷ thác xuất khẩu thì bên nhận uỷ thác xuất khẩu phải thanh toán với nước ngoài
qua ngân hàng.
- Các trường hợp thanh toán dưới đây cũng được coi là thanh
toán qua ngân hàng:
+ Trường hợp hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu được thanh toán cấn
trừ vào khoản tiền vay nợ nước ngoài cơ sở kinh doanh phải có đủ điều kiện, thủ
tục, hồ sơ như sau:
(1) Hợp đồng vay nợ (đối với những khoản vay tài chính có thời
hạn dưới 01 năm); hoặc giấy xác nhận đăng ký khoản vay của Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam (đối với những khoản vay trên 01 năm).
(2) Chứng từ chuyển tiền của phía nước ngoài vào Việt Nam
qua ngân hàng.
Phương thức thanh toán hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu cấn trừ
vào khoản nợ vay nước ngoài phải được quy định trong hợp đồng xuất khẩu.
(3) Bản xác nhận của phía nước ngoài về cấn trừ khoản nợ
vay.
(4) Trường hợp sau khi cấn trừ giá trị hàng hóa, dịch vụ xuất
khẩu vào khoản nợ vay của nước ngoài có chênh lệch, thì số tiền chênh lệch phải
thực hiện thanh toán qua ngân hàng. Chứng từ thanh toán qua ngân hàng theo hướng
dẫn tại điểm này.
+ Trường hợp cơ sở kinh doanh xuất khẩu sử dụng tiền thanh
toán hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu để góp vốn với cơ sở nhập khẩu ở nước ngoài,
cơ sở kinh doanh phải có đủ điều kiện thủ tục, hồ sơ như sau:
(1) Hợp đồng góp vốn.
(2) Việc sử dụng tiền thanh toán hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu
để góp vốn vào cơ sỏ nhập khẩu ở nước ngoài phải được quy định trong hợp đồng
xuất khẩu.
(3) Trường hợp số tiền góp vốn nhỏ hơn doanh thu hàng hoá xuất
khẩu thì số tiền chênh lệch phải thực hiện thanh toán qua ngân hàng theo hướng
dẫn tại điểm này.
+ Trường hợp cơ sở xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ thanh toán tiền
hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu qua ngân hàng nhưng phía nước ngoài uỷ quyền cho
bên thứ ba là tổ chức, cá nhân ở nước ngoài thực hiện thanh toán thì việc thanh
toán theo uỷ quyền phải được quy định trong hợp đồng xuất khẩu (phụ lục hợp đồng
hoặc văn bản điều chỉnh hợp đồng- nếu có).
+ Trường hợp phía nước ngoài uỷ quyền cho Văn phòng đại diện
tại Việt Nam thực hiện thanh toán vào tài khoản của bên xuất khẩu và việc uỷ
quyền thanh toán nêu trên có quy định trong hợp đồng xuất khẩu (phụ lục hợp đồng
hoặc văn bản điều chỉnh hợp đồng- nếu có).
+ Trường hợp phía nước ngoài yêu cầu bên thứ 3 là tổ chức ở
Việt Nam thanh toán bù trừ công nợ với phía nước ngoài bằng thực hiện thanh
toán qua ngân hàng số tiền phía nước ngoài phải thanh toán cho bên xuất khẩu và
việc yêu cầu thanh toán bù trừ công nợ nêu trên có quy định trong hợp đồng xuất
khẩu (phụ lục hợp đồng hoặc văn bản điều chỉnh hợp đồng- nếu có) và có chứng từ
thanh toán là giấy báo có của ngân hàng bên xuất khẩu về số tiền đã nhận được từ
tài khoản bên thứ 3, đồng thời bên xuất khẩu phải xuất trình bản đối chiếu công
nợ có xác nhận của bên nước ngoài và bên thứ 3.
+ Trường hợp phía nước ngoài thanh toán từ tài khoản tiền gửi
vãng lai của phía nước ngoài mở tại các tổ chức tín dụng tại Việt Nam thì việc
thanh toán này phải được quy định trong hợp đồng xuất khẩu (phụ lục hợp đồng hoặc
văn bản điều chỉnh hợp đồng- nếu có). Chứng từ thanh toán là giấy báo Có của
ngân hàng bên xuất khẩu về số tiền đã nhận được từ tài khoản vãng lai của người
mua phía nước ngoài đã ký hợp đồng.
+ Trường hợp xuất khẩu lao động mà cơ sở kinh doanh xuất khẩu
lao động thu tiền trực tiếp của người lao động thì phải có chứng từ thu tiền mặt
của người lao động.
+ Trường hợp cơ sở kinh doanh xuất khẩu hàng hóa để bán tại
hội chợ, triển lãm ở nước ngoài, nếu thu và chuyển về nước bằng tiền mặt ngoại
tệ tại nước tổ chức hội chợ, triển lãm thương mại cơ sở kinh doanh phải có chứng
từ kê khai với cơ quan Hải quan về tiền ngoại tệ thu được do bán hàng hóa chuyển
về nước và chứng từ nộp tiền vào ngân hàng tại Việt Nam.
+ Trường hợp xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ để trả nợ nước
ngoài cho Chính phủ thì phải có xác nhận của ngân hàng ngoại thương về lô hàng
xuất khẩu đã được phía nước ngoài chấp nhận trừ nợ hoặc xác nhận bộ chứng từ đã
được gửi cho phía nước ngoài để trừ nợ; chứng từ thanh toán thực hiện theo hướng
dẫn của Bộ Tài chính.
+ Trường hợp hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu thanh toán bằng
hàng là trường hợp xuất khẩu hàng hóa (kể cả gia công hàng hóa xuất khẩu), dịch
vụ cho tổ chức, cá nhân nước ngoài (gọi tắt là phía nước ngoài) nhưng việc
thanh toán giữa doanh nghiệp Việt Nam và phía nước ngoài bằng hình thức bù trừ
giữa giá trị hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, tiền công gia công hàng hóa xuất khẩu
với giá trị hàng hóa, dịch vụ mua của phía nước ngoài.
(1) Phương thức thanh toán đối với hàng xuất khẩu bằng hàng
phải được quy định trong hợp đồng xuất khẩu.
(2) Hợp đồng mua hàng hóa, dịch vụ của phía nước ngoài;
(3) Tờ khai hải quan về hàng hóa nhập khẩu thanh toán bù trừ
với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu.
(4) Văn bản xác nhận với phía nước ngoài về việc số tiền
thanh toán bù trừ giữa hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu với hàng hóa nhập khẩu, dịch
vụ mua của phía nước ngoài.
(5) Trường hợp sau khi thanh toán bù trừ giữa giá trị hàng
hóa, dịch vụ xuất khẩu và giá trị hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu có chênh lệch, số
tiền chênh lệch phải thực hiện thanh toán qua Ngân hàng. Chứng từ thanh toán
qua Ngân hàng theo hướng dẫn tại Điểm này.
+ Trường hợp xuất khẩu hàng hoá sang các nước có chung biên
giới theo quy định của Thủ tướng Chính phủ về việc quản lý hoạt động thương mại
biên giới với các nước có chung biên giới thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài
chính và Ngân hàng Nhà nước.
+ Một số trường hợp hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu có hình thức
thanh toán khác theo quy định của pháp luật có liên quan.
c.4. Hóa đơn GTGT bán hàng hóa, dịch vụ hoặc hoá đơn đối với
tiền công gia công của hàng hoá gia công.
d) Điều kiện, thủ tục, hồ sơ để khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối
với một số trường hợp hàng hoá được coi như xuất khẩu:
d.1. Hàng hoá gia công chuyển tiếp theo quy định của pháp luật
Thương mại về hoạt động mua, bán hàng hoá quốc tế và các hoạt động đại lý mua,
bán, gia công hàng hoá với nước ngoài:
- Hợp đồng gia công xuất khẩu và các phụ kiện hợp đồng (nếu
có) ký với nước ngoài, trong đó ghi rõ cơ sở nhận hàng tại Việt Nam.
- Hoá đơn GTGT ghi rõ giá gia công và số lượng hàng gia công
trả nước ngoài (theo giá quy định trong hợp đồng ký với nước ngoài) và tên cơ sở
nhận hàng theo chỉ định của phía nước ngoài;
- Phiếu chuyển giao sản phẩm gia công chuyển tiếp (gọi tắt
là Phiếu chuyển tiếp) có đủ xác nhận của bên giao, bên nhận sản phẩm gia công
chuyển tiếp và xác nhận của Hải quan quản lý hợp đồng gia công của bên giao,
bên nhận.
- Hàng hóa gia công cho nước ngoài phải thanh toán qua Ngân
hàng theo hướng dẫn tại tiết c.3 điểm này.
Về thủ tục giao nhận sản phẩm gia công chuyển tiếp và Phiếu
chuyển tiếp thực hiện theo hướng dẫn của Tổng cục Hải quan.
d.2. Hàng hóa gia công xuất khẩu tại chỗ theo quy định của
pháp luật Thương mại về hoạt động mua, bán hàng hoá quốc tế và các hoạt động đại
lý mua, bán, gia công hàng hoá với nước ngoài:
- Hợp đồng bán hàng hóa ký với nước ngoài, trong đó ghi rõ
mặt hàng, số lượng, giá trị, tên và địa chỉ của doanh nghiệp nhận hàng tại Việt
Nam.
- Tờ khai hải quan hàng hoá xuất khẩu – nhập khẩu tại chỗ có
xác nhận của cơ quan Hải quan về hàng hóa đã giao cho doanh nghiệp tại Việt Nam
theo chỉ định của phía nước ngoài.
- Hàng hóa bán cho thương nhân nước ngoài nhưng giao hàng tại
Việt Nam phải thanh toán qua ngân hàng bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi. Chứng từ
thanh toán qua ngân hàng theo hướng dẫn tại Điểm 1.2. c.3 Mục này.
- Hoá đơn GTGT của hàng hóa xuất khẩu tại chỗ, ghi rõ tên
người mua phía nước ngoài, tên doanh nghiệp nhận hàng và địa điểm giao hàng tại
Việt Nam.
- Hàng hoá xuất khẩu tại chỗ của doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài phải phù hợp với quy định tại giấy phép đầu tư.
d.3. Hàng hoá, vật tư do doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu để
thực hiện công trình xây dựng ở nước ngoài thì thủ tục hồ sơ để doanh nghiệp Việt
Nam thực hiện công trình xây dựng tại nước ngoài được khấu trừ hoặc hoàn thuế
GTGT đầu vào phải đáp ứng các điều kiện sau:
- Tờ khai hải quan hàng hoá xuất khẩu.
- Hàng hoá, vật tư xuất khẩu phải phù hợp với Danh mục hàng
hoá xuất khẩu để thực hiện công trình xây dựng ở nước ngoài do Giám đốc doanh
nghiệp Việt Nam thực hiện công trình xây dựng ở nước ngoài phê duyệt.
- Hợp đồng uỷ thác xuất khẩu (trường hợp uỷ thác xuất khẩu).
d.4. Hàng hoá, vật tư do cơ sở kinh doanh trong nước bán cho
doanh nghiệp Việt Nam để thực hiện công trình xây dựng ở nước ngoài và thực hiện
giao hàng hoá tại nước ngoài theo Hợp đồng ký kết thì thủ tục hồ sơ để cơ sở
kinh doanh trong nước bán hàng thực hiện khấu trừ hoặc hoàn thuế GTGT đầu vào đối
với hàng hoá xuất khẩu phải đáp ứng các điều kiện sau:
- Tờ khai hải quan hàng hoá xuất khẩu có xác nhận thực xuất
của cơ quan hải quan;
- Hàng hoá, vật tư xuất khẩu phải phù hợp với Danh mục hàng
hoá xuất khẩu để công trình xây dựng ở nước ngoài do Giám đốc doanh nghiệp Việt
Nam thực hiện công trình xây dựng ở nước ngoài phê duyệt.</p>
- Hợp đồng mua bán ký giữa cơ sở kinh doanh trong nước và
doanh nghiệp Việt Nam thực hiện công trình xây dựng ở nước ngoài, trong đó có
ghi rõ về điều kiện giao hàng, số lượng, chủng loại và trị giá hàng hoá;
- Hợp đồng uỷ thác (trường hợp uỷ thác xuất khẩu);
- Chứng từ thanh toán qua ngân hàng;
- Hoá đơn GTGT bán hàng hoá.
Các trường hợp cơ sở kinh doanh có hàng hóa xuất khẩu hoặc
hàng hoá được coi như xuất khẩu nêu tại điểm d nêu trên, nếu đã có xác nhận của
cơ quan Hải quan (đối với hàng hóa xuất khẩu) nhưng không có đủ các thủ tục, hồ
sơ khác đối với từng trường hợp cụ thể thì không phải tính thuế GTGT đầu ra
nhưng không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào. Riêng đối với trường hợp hàng hoá
gia công chuyển tiếp và hàng hoá xuất khẩu tại chỗ, nếu không có đủ một trong
các thủ tục, hồ sơ theo quy định thì phải tính và nộp thuế GTGT như hàng hóa
tiêu thụ nội địa. Đối với cơ sở kinh doanh có dịch vụ xuất khẩu nếu không đáp ứng
điều kiện về thanh toán qua ngân hàng hoặc được coi như thanh toán qua ngân
hàng thì không được áp dụng thuế suất thuế GTGT 0%, không phải tính thuế GTGT đầu
ra nhưng không được khấu trừ thuế đầu vào.
đ) Đối với hộ kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp trực
tiếp trên GTGT được chuyển sang nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế, được
khấu trừ thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ mua vào phát sinh kể từ tháng được áp
dụng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế; đối với hàng hoá, dịch vụ mua vào
trước tháng được áp dụng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế thì không được
tính khấu trừ thuế GTGT đầu vào.
1.3. Cơ sở kinh doanh không được tính khấu trừ thuế GTGT đầu
vào đối với trường hợp: hoá đơn GTGT sử dụng không đúng quy định của pháp luật
như: hóa đơn GTGT không ghi thuế GTGT (trừ trường hợp đặc thù được dùng hoá đơn
GTGT ghi giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT); không ghi hoặc ghi không đúng
một trong các chỉ tiêu như tên, địa chỉ, mã số thuế của người bán nên không xác
định được người bán; hóa đơn, chứng từ nộp thuế GTGT giả, hóa đơn bị tẩy xóa,
hóa đơn khống (không có hàng hóa, dịch vụ kèm theo); hóa đơn ghi giá trị không
đúng giá trị thực tế của hàng hóa, dịch vụ mua, bán hoặc trao đổi.
0 nhận xét:
Đăng nhận xét